Dấu ấn ngành công nghiệp Việt Nam đầu 2018 và định hướng phát triển năm 2019 – 2020

Từ năm 2018 đến nửa đầu 2019, ngành công nghiệp tại Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng trong bức tranh phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam với các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu chủ lực, thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng duy trì tốc độ tăng trưởng cao, năng lực sản xuất, kinh doanh của ngành công nghiệp đã được tăng lên đáng kể…

nganh-cong-nghiep-viet-nam

Điểm qua một số dấu ấn của ngành công nghiệp Việt Nam trong năm 2018

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, GDP cả năm 2018 tăng 7,08% so so với năm 2017, đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 tới nay. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng 8,79%, chiếm 28,44% trong GDP. Dấu ấn của ngành công nghiệp trong năm 2018 được thể hiện qua những khía cạnh sau.

Ngành công nghiệp đạt được mức tăng trưởng cao, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP cả nước

Năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp trên đà tăng trưởng cao và ổn định (tăng đến 10,2%, cao hơn mục tiêu đề ra là 9%). Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là nguồn động lực chính thúc đẩy mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp. Cụ thể, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 12,98%, tuy thấp hơn so với mức tăng của năm 2017, nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm từ 2012 đến 2016.

cong-nghiep-che-tao-may-tai-viet-nam

Đây là kết quả của việc thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh trong thời gian qua của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời, là kết quả của việc vận dụng hiệu quả cơ hội của các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương đã ký kết, góp phần mở rộng thị trường, gia tăng đầu tư để mở rộng sản xuất trong nước, thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam.

Chuyển dịch cơ cấu của ngành công nghiệp Việt Nam đang đi đúng hướng

Tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo tăng và tỷ trọng ngành khai khoáng giảm. Tỷ trọng GDP của nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng dần theo các năm (16,2% năm 2016, 17,4% năm 2018 và ước 18,3% năm 2019), trong khi tỷ trọng của nhóm ngành khai khoáng giảm từ 8,8% bình quân giai đoạn 2011-2015 xuống 7,6% năm 2016, 6,6% năm 2017 và 6% năm 2018.

Năng lực sản xuất, kinh doanh của ngành công nghiệp đã được tăng lên đáng kể

Trong ngành thép, Tập đoàn Hòa Phát đưa vào hoạt động dự án thép cán 600 nghìn tấn trong tháng 08/2018 ở Quảng Ngãi. Công ty TNHH Formosa Hà Tĩnh tăng công suất sản xuất với việc đưa lò cao số 2 (công suất 4 triệu tấn/năm) đi vào sản xuất trong 6 tháng cuối năm 2018, giúp nâng tổng công suất của Fomosa lên 7,5 triệu tấn/năm. Tập đoàn Hoa Sen đưa thiết bị dây chuyền cán nguội, mạ kẽm/lạnh, mạ màu vào hoạt động được  350 nghìn tấn.

Còn trong ngành điện, theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, năm 2018, công suất nguồn điện tăng thêm khoảng 3.150MW; đường dây 500-220kV tăng thêm khoảng 1.092km; đường dây 110kV tăng thêm khoảng 1.267km.

Trong ngành dầu khí, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn đi vào hoạt động đã sản xuất và cung ứng ra thị trường khoảng 3-3,2 triệu tấn xăng dầu các loại năm 2018.

Đầu tư mạnh vào ngành công nghiệp Việt Nam trong năm 2019

Các nhà đầu tư đã đặt niềm tin vào sự ổn định kinh tế vĩ mô  đặc biệt là chế tạo, lắp ráp ô tô, như: Tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast (tổng vốn đầu tư khoảng 35.000 tỷ đồng, dự kiến sản xuất hơn 500.000 xe/năm), Nhà máy sản xuất ô tô Thaco Mazda (tổng vốn đầu tư 12.000 tỷ, khoảng 100.000 xe/năm), Nhà máy sản xuất ô tô Huyndai Thành Công (tổng vốn đầu tư 1.320 tỷ, khoảng 40.000 xe/năm)…

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2018, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt khoảng 9,067 tỷ USD, chiếm đến 50,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5,216 tỷ USD, chiếm 29%; các ngành còn lại đạt 3,691 tỷ USD, chiếm 20,5%.

Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp tăng mạnh

Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu do Quốc hội và Chính phủ đặt ra (chỉ tiêu Quốc hội giao là 7%-8%; chỉ tiêu Chính phủ giao là 8%-10%). Nhập khẩu được kiểm soát tốt, cán cân thương mại duy trì thặng dư năm thứ 3 liên tiếp. Kim ngạch nhập khẩu năm 2018 ước đạt 237,5 tỷ USD, tăng 11,5%; thặng dư thương mại đạt khoảng 7,2 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Con số xuất siêu của Việt Nam trong năm nay đã gấp hơn 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

cong-nghiep-van-chuyen-tau-viet-nam

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực, giảm hàm lượng xuất khẩu thô, tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến, sản phẩm công nghiệp. Quy mô các mặt hàng xuất khẩu tiếp tục được mở rộng. Năm 2018, có 8 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD.

Dự định cho phát triển công nghiệp Việt Nam năm 2019 – năm 2020

Năm 2019, phát triển sản xuất công nghiệp có một số yếu tố thuận lợi, như: môi trường kinh doanh đang được cải thiện một cách mạnh mẽ sẽ hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp trong nước đầu tư vào sản xuất, cũng như thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2019 và Hiệp định FTA Việt NamEU dự kiến có hiệu lực vào năm 2019 đã và đang tạo ra sức hút mới cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, giúp nước ta có thêm năng lực sản xuất mới.

Bên cạnh đó, một số ngành sản xuất cho thấy dư địa, điều kiện tốt để phát triển cho năm 2020 tới, như: Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn đã chính thức đi vào vận hành thương mại trong cuối năm 2018; Hai dự án Alumin Tân Rai và Nhân Cơ tiếp tục có những chuyển biến tích cực đáng ghi nhận, sản xuất và tiêu thụ tốt hơn, sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ và xuất khẩu với giá cao góp phần vào tăng trưởng của nhóm ngành khai khoáng.

nganh-san-xuat-cong-nghiep-tai-viet-nam

Mặc dù vậy, sản xuất công nghiệp năm 2019-2020 cũng tiếp tục phải đối mặt với những thách thức, đó là: tỷ trọng gia công, lắp ráp đối với các sản phẩm công nghiệp Việt Nam còn cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ diễn ra chậm; các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến tận dụng thành quả của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghệ mới có lợi thế; diễn biến giá dầu thô rất khó dự báo…

Trong bối cảnh đó, định hướng phát triển ngành công nghiệp năm 2020 tiếp tục phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu để từng bước tạo ra những sản phẩm có thương hiệu quốc gia và có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới, tham gia sâu hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng các ngành chế biến, chế tạo và giảm tỷ trọng gia công, lắp ráp đối với các sản phẩm công nghiệp được sản xuất tại Việt Nam. Rà soát cơ chế, chính sách tác động đến công nghiệp của từng ngành, sản phẩm. Từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp để tăng khả năng cạnh tranh, xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩm nhập khẩu để hỗ trợ sản phẩm trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa. Tăng cường giám sát đầu tư chuyên ngành, phấn đấu hoàn thành đưa vào sản xuất đúng tiến độ góp phần tăng trưởng chung của ngành trong năm 2020. Thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, chủ động tham gia và tận dụng thành quả của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghệ mới có lợi thế.

nganh-san-xuat-cong-nghiep-tai-viet-nam-1

Để góp phần đạt tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước là 7,8% năm 2020 do Quốc hội đề ra, ngành công nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng GDP công nghiệp tăng khoảng 8% so với năm 2018, tỷ trọng công nghiệp trong GDP khoảng 28,5%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khoảng 9%-10%.

Nghiên cứu khả năng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại theo đúng quy định của WTO và các FTA đã ký kết để bảo vệ ngành thép Việt Nam trước áp lực cạnh tranh của sản phẩm thép nhập khẩu. Đặc biệt, nhanh chóng ngăn chặn sản phẩm thép cuộn sử dụng trong xây dựng với nguy cơ bị gian lận dưới dạng thép khác để trốn thuế.

Thông tin bổ sung

Chỉ số tiêu thụ của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tính đến hết 12 tháng năm 2018 tăng 12,4% so với năm trước (năm 2017 tăng 10,2%). Chỉ số tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/12/2018 tăng 14,1% so với cùng thời điểm năm.

Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của một số năm: Năm 2012 tăng 9,05%; năm 2013 tăng 7,22%; năm 2014 tăng 7,41%; năm 2015 tăng 10,60%; năm 2016 tăng 11,90%; năm 2017 tăng 14,40%; năm 2018 tăng 12,98%), đóng góp 2,55 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng toàn ngành.

Mọi ý kiến đóng góp quý khách vui lòng liên hệ Hotline hoặc Email của Hải Đăng. Xin chân thành cảm ơn!

Bình luận trên Facebook